Friday, 19 October 2018

Clorofom – Wikipedia tiếng Việt


Clorofom
Danh pháp IUPAC
Triclometan
Tên khác
Clorofom, Fomyl triclorua, Mêtan triclorua, Mêtyl triclorua, Mêtenyl triclorua, TCM, Freon 20, R-20, UN 1888

Nhận dạng
Số CAS
67-66-3
PubChem
6212
Số EINECS
200-663-8
KEGG
C13827
ChEBI
35255
Số RTECS
FS9100000
Ảnh Jmol-3D
ảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tử
CHCl3
Khối lượng mol
119,38 g/mol
Bề ngoài
Chất lỏng không màu
Khối lượng riêng
1,48 g/cm³, chất lỏng
Điểm nóng chảy
-63,5 °C
Điểm sôi
61,2 °C
Độ hòa tan trong nước
0,8 g/100 ml at 20 °C
Cấu trúc
Hình dạng phân tử
Tứ diện
Các nguy hiểm
Nguy hiểm chính

Chất độc (Xn), Chất kích thích (Xi),


Chất gây ung thư
NFPA 704


NFPA 704.svg



 


2


 


 


Chỉ dẫn R
R22, R38, R40, R48/20/22
Chỉ dẫn S
S2, Bản mẫu:S36/37
Điểm bắt lửa
Không bắt cháy
PEL
50 ppm (240 mg/m3) (OSHA)


Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).


Clorofom, hay còn gọi là triclomêtanmêtyl triclorua, và một hợp chất hoá học thuộc nhóm trihalomêtan có công thức CHCl3. Nó không cháy trong không khí, trừ khi tạo thành hỗn hợp với các chất dễ bắt cháy hơn. Người ta sử dụng clorofom làm chất phản ứng và dung môi. Clorofom còn là một chất độc với môi trường.





Tháng 7 năm 1831, nhà vật lý người Mỹ Samuel Guthrie[1] và vài tháng sau đến lượt các nhà hoá học người Pháp Eugène Soubeiran[2] và người Đức Justus von Liebig[3] đã độc lập tìm ra clorofom. Cả ba đều tìm thấy clorofom qua phản ứng halofom. Soubeiran cho bột tẩy clo (canxi hypoclorit) tác dụng với aceton (2-propanon) cũng như với êtanol để điều chế clorofom. Năm 1834, Jean-Baptiste Dumas đã đặt tên và khảo sát hóa học clorofom.[4]

Năm 1847, bác sĩ sản khoa James Young Simpson ở Edinburgh lần đầu sử dụng clorofom là chất gây mê chính cho quá trình đỡ đẻ. Sau đó người ta sử dụng clorofom cho phẫu thuật trên toàn châu Âu. Đầu thế kỷ 20, tại Hoa Kỳ, clorofom thay thế ete làm chất gây mê. Tuy nhiên, người ta nhanh chóng cấm sử dụng vì tính độc của nó, đặc biệt là khả năng gây ra chứng loạn nhịp tim chết người.



Trong công nghiệp, người ta điều chế clorofom bằng đốt nóng hỗn hợp clo và clomêtan hay mêtan. Ở nhiệt độ 400-500 °C, phản ứng halogen hóa gốc tự do diễn ra, chuyển mêtan hay clomêtan dần dần thành các hợp chất clo hóa.


CH4 + Cl2 → CH3Cl + HCl

CH3Cl + Cl2 → CH2Cl2 + HCl

CH2Cl2 + Cl2 → CHCl3 + HCl

Tiếp tục phản ứng clo hóa, clorofom chuyển thành CCl4:


CHCl3 + Cl2 → CCl4 + HCl

Hỗn hợp sản phẩm sau phản ứng gồm 4 chất: clomêtan, diclomêtan, clorofom (triclomêtan), và cácbon tetraclorua, chúng tách ra qua quá trình chưng cất.



Ngày nay clorofom sử dụng chủ yếu để tổng hợp chất làm lạnh R-22 cho máy điều hòa không khí. Tuy nhiên, vì R-22 gây ra sự suy giảm ozon nên clorofom gần như ít sử dụng cho mục đích này.


Gây mê[sửa | sửa mã nguồn]


Từ giữa thế kỷ 18, clorofom chủ yếu sử dụng làm chất gây mê. Hơi clorofom ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương của người bệnh, gây ra chóng mặt, mỏi mệt và ngất, cho phép bác sĩ phẫu thuật.


Làm dung môi[sửa | sửa mã nguồn]


Clorofom là một dung môi phổ biến vì nó khá trơ, trộn hợp với hầu hết các chất lỏng hữu cơ, và dễ bay hơi. Trong công nghiệp dược phẩm, người ta sử dụng clorofom làm dung môi để sản xuất thuốc nhuộm và thuốc trừ sâu. Clorofom chứa dơtơri (hydro nặng), CDCl3, là dung môi phổ biến cho phương pháp đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân.







No comments:

Post a Comment