Friday, 19 October 2018

Cảnh sát biển Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt


Cảnh sát biển Việt Nam

Quân đội nhân dân Việt Nam


Vietnam Marine Police insignia.jpg



Chỉ huy
Vietnam Marine Police Major General Left.jpg Nguyễn Văn Sơn
từ năm 2018


Quốc gia
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Thành lập
28 tháng 8, 1998; 20 năm trước
Phân cấp
Bộ Tư lệnh (Nhóm 3)
Nhiệm vụ
tuần tra kiểm soát và quản lý về an ninh, trật tự, an toàn trên biển, bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, chống tội phạm, TKCN,..trên biển
Bộ phận của
Quân chủng Hải quân (1998-2008)
Bộ Quốc phòng (2008-2013)
Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2013-nay)
Bộ chỉ huy
số 94, Lê Lợi, Hà Đông, Hà Nội
Màu sắc
             Xanh biển, Trắng, Cam
Lễ kỷ niệm
28 tháng 8 năm 1998
Trang bị
Tàu tuần tra, Tàu hộ tống, Tàu cứu hộ, Máy bay tuần thám, Máy bay trực thăng
Chỉ huy
Tư lệnh
Vietnam Marine Police Major General Left.jpg Nguyễn Văn Sơn
Chính ủy
Vietnam Marine Police Lieutenant General Left.jpg Hoàng Văn Đồng
Tham mưu trưởng
Vietnam Marine Police Major General Left.jpg Phạm Kim Hậu
Huy hiệu
Phù hiệu trên thân tàu
Vietnam Marine Police Racing Stripe.jpg
Phù hiệu trên ve áo
Vietnam Marine Police insignia 2.jpg

Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, còn gọi là Cảnh sát biển Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Coast Guard hay viết tắt là VCG - được quy định theo Điều 4, Nghị định 96/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2013)[1], một số tài liệu còn viết là Tuần duyên Việt Nam, là lực lượng quân sự chuyên trách thuộc Chính phủ CHXHCN Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của nước này.

Theo các văn bản pháp luật hiện hành tại Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Chính phủ. Cảnh sát biển Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo quy định của Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 5 tháng 2 năm 2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.[2]





Trước năm 1998, chính quyền Việt Nam không có một cơ quan Cảnh sát biển chuyên dụng nào mà chỉ có lực lượng hải quân tuần tra ngoài khơi cùng các hoạt động quân sự khác. Ngoài ra là các đội tàu tuần tra thuộc Bộ Tư lệnh Biên phòng, trong đó có các trạm kiểm soát ở cửa sông, cảng biển. Còn lại, tất cả trách nhiệm tuần tra sông thuộc về Cảnh sát Giao thông đường thủy (Cục Cảnh sát giao thông đường thủy - C68) dưới sự chỉ đạo của Công an các tỉnh và thành phố.

Ngày 28 tháng 8 năm 1998, Cục cảnh sát biển Việt Nam thuộc Bộ tư lệnh Hải quân được thành lập, đánh dấu sự ra đời của Cảnh sát biển Việt Nam. Lúc mới thành lập thì Cục cảnh sát biển chỉ là một Cục chức năng và không chỉ huy các Vùng cảnh sát biển được thành lập sau đó.

Năm 2008, Cục Cảnh sát biển được chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng và đồng thời các Vùng cảnh sát biển được chuyển về trực thuộc Cục.

Năm 2013, Cục cảnh sát biển đổi tên thành Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển theo Nghị định số 96/2013/NĐ-CP, ngày 27 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ. Có con dấu hình quốc huy, là cơ quan mang danh nghĩa trực thuộc Chính phủ Việt Nam. Cảnh sát biển Việt Nam có ngân sách riêng của Nhà nước, có cảnh hiệu, cảnh phục riêng do Chính phủ quy định. Ngày 10 tháng 9 năm 2014, các Vùng cảnh sát biển được đổi tên thành Bộ tư lệnh Vùng cảnh sát biển theo quyết định của Bộ trưởng Quốc phòng.



  • Hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quy định tại pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gọi là Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam [3].

  • Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động trong vùng biển quốc tế, vùng nước nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, có nhiệm vụ chính như kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hoá, vũ khí, chất nổ, chất ma tuý, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Cùng với đó là nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, hoà bình và ổn định trên các vùng biển.[4]

  • Các vấn đề Cảnh sát biển có nhiệm vụ giải quyết bao gồm:
  1. Tuần tra, kiểm soát tất cả người, phương tiện hoạt động trên các vùng biển Việt Nam để bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh, trật tự trên biển;

  2. Xử lý vi phạm hành chính trên vùng biển Việt Nam;

  3. Bắt giữ, tiến hành một số hoạt động điều tra các hành vi phạm tội trên vùng biển Việt Nam và toàn bộ vịnh Thái Lan: Buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, tội phạm về ma túy, môi trường, cướp biển...

  4. Bảo vệ môi trường biển;

  5. Bảo vệ tài nguyên sống của biển;

  6. Bảo vệ vận tải biển;

  7. Hỗ trợ hàng hải;

  8. Tìm kiếm cứu nạn (SAR);

  9. Hợp tác quốc tế với các quốc gia để bảo vệ an ninh vùng biển;

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Cảnh sát biển Việt Nam có các quyền hạn theo quy định của pháp luật và có các quyền hạn cơ bản sau:


  • Kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện hoạt động trong vùng biển Việt Nam.

  • Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và thực hiện quyền nổ súng. 

  • Xử lý vi phạm hành chính và tiến hành hoạt động điều tra hình sự.

  • Thực hiện trưng dụng tài sản của tổ chức, công dân Việt Nam.

  • Truy đuổi người, phương tiện vi phạm pháp luật trên biển.

  • Huy động người, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật dân sự của cá nhân, tổ chức Việt Nam. 

  • Yêu cầu tổ chức, cá nhân và phương tiện nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ.

  • Bắt giữ tàu thuyền vi phạm pháp luật.

  • Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và thực hiện các quyền hạn khác được quy định tại Điều 24 Luật An ninh quốc gia năm 2004. Tư lệnh Cảnh sát biển quyết định việc sử dụng các quyền hạn theo quy định tại Điều này theo thủ tục, thẩm quyền do Chính phủ quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

1. Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động trong vùng biển Việt Nam và vùng biển Đông Nam Á.

2. Trong trường hợp vì mục đích nhân đạo, hòa bình, phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển, Cảnh sát biển Việt Nam được hoạt động ở địa bàn liên quan, trên vùng biển nước ngoài, vùng biển quốc tế, nhưng phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, thỏa thuận song phương, điều ước và pháp luật quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.





Cơ quan chức năng[sửa | sửa mã nguồn]


  • Văn phòng

  • Thanh tra

  • Phòng Tài chính

  • Phòng Đối ngoại

  • Phòng Điều tra hình sự

  • Phòng Thi hành án dân sự

  • Phòng Cứu hộ cứu nạn

  • Bộ Tham mưu

  • Cục Chính trị

  • Cục Hậu cần

  • Cục Kỹ thuật

  • Cục Nghiệp vụ và pháp luật

Đơn vị cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]


  • Hạm đội Cảnh sát biển.

  • Các Hải đội Cảnh sát biển.

  • Cụm Trinh sát số 1.

  • Cụm Trinh sát số 2.

  • Cụm đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 1.

  • Cụm đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 2.

  • Cụm đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 3.

  • Cụm đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 4.

  • Trung tâm thông tin Cảnh sát biển.

  • Trung tâm huấn luyện Cảnh sát biển.[1]

Các Vùng Cảnh sát biển Việt Nam

  • Trong nội thủy, lãnh hải và vùng nước cảng biển của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hoá, vũ khí, chất nổ, chất ma tuý, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

  • Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, vận chuyển trái phép và buôn bán người, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy.

  • Ngày 10 tháng 9 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định nâng cấp Bộ Chỉ huy Vùng Cảnh sát biển thành Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển.[5][6]

  • Bộ Tư lệnh Vùng 1

  • Bộ Tư lệnh Vùng 2

  • Bộ Tư lệnh Vùng 3

  • Bộ Tư lệnh Vùng 4

Quân hàm chức vụ trong Cảnh sát biển[sửa | sửa mã nguồn]


Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 2014ː[7]


  • Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Tư lệnh và Chính ủy Cảnh sát biển [8].

  • Tư lệnh và Chính ủy Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Trung tướng[7]

  • Phó Tư lệnh Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Thiếu tướng không quá 3 người.[7]

  • Phó Chính ủy Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Thiếu tướng không quá 1 người[7]

  • Tư lệnh và Chính ủy Vùng Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Thiếu tướng

  • Các chức vụ khác có trần quân hàm cao nhất là Đại tá[7]


Tham mưu trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]



  • Nguyễn Quang Đạm, Đại tá, Thiếu tướng (2012), Trung tướng (2016), (Phó Cục trưởng kiêm Tham mưu trưởng) hiện là Nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển

  • Ngô Ngọc Thu, Thiếu tướng, (Phó Cục trưởng)

  • 2010-2018, Phan Thanh Minh, Thiếu tướng (6.2014)[13]

  • 2012-2018, Nguyễn Văn Sơn, Thiếu tướng (2015)

  • 2014-nay, Bùi Trung Dũng, Thiếu tướng (2016)[14]

  • 2014-2015, Phạm Kim Hậu, Đại tá, nguyên Phó Tham mưu trưởng BTL Cảnh sát biển[15]

  • 2008-2012, Lê Đình Phú, Đại tá, nguyên Chủ nhiệm Chính trị

  • 2012-2014, Nguyễn Sỹ Khương, Đại tá, nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1

  • 2014-6.2015, Hoàng Văn Đồng, Thiếu tướng (2009), Trung tướng (2015), nguyên Chính ủy Học viện Biên phòng, Chính ủy Bộ Tư lệnh CSB

  • 6.2015-nay, Doãn Bảo Quyết, Thiếu tướng (2016), nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4[16]

Các tàu của Cảnh sát biển Việt Nam được trang bị cho phù hợp với từng chức năng riêng biệt. Hầu hết là tàu tự sản xuất.


  1. Nhiệm vụ tuần tra và bảo vệ bờ biển bao gồm các tàu có trọng tải từ 120-400 tấn, có tốc độ rất cao, trang bị vũ khí mạnh mẽ, số hiệu là 00xx, 20xx, 30xx, 40xx, 50xx.

  2. Nhiệm vụ hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn bao gồm các tàu có trọng tải từ 1000 - 2000 tấn, số hiệu thường là 60xx

  3. Nhiệm vụ tuần tra ngoài khơi, bảo vệ các vùng biển, bảo vệ các đảo và chỉ huy bao gồm các tàu có trọng tải 2500 tấn trở lên được trang bị vũ khí hiện đại, có sàn đỗ trực thăng, số hiệu thường là 80xx

  4. Riêng nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn còn có các tàu mang số hiệu thường là 90.. hoặc SAR

  5. Số hiệu của tàu bắt đầu với CSB (Cảnh Sát Biển). Ví dụ: CSB 8001, CSB 4033...

  6. Nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, chống buôn lậu trong 500 hải lý bao gồm các xuồng tuần tra cao tốc mang số hiệu thường là 4xx, 6xx, 7xx

  7. Ngoài ra còn có 3 máy bay tuần thám CASA C-212 mang số hiệu 8981, 8982, 8983 với nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại theo tiêu chuẩn châu Âu, được thiết kế chuyên biệt cho nhiệm vụ tuần thám hải quân. (máy bay mang số hiệu 8983 đã bị rơi khi thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn chiếc Su-30MK2 bị mất tín hiệu khi đang huấn luyện trên biển)


















































































Hình
Loại
Xuất xứ
Chức năng
Số lượng
Tên
Project206 Shershen Egypt 1989 DN-SN-89-09160.jpg
Shershen class

148 tấn


Soviet Union
Tuần tra
4
5011, 5012, 5013, 5014
Vietnam Marine Police vessel type 3.jpg
TT-120

120 tấn


Vietnam
Tuần tra
14
001, 1011, 1012, 1013, 1014, 3001, 3002, 3003, 3004, 3005, 3006, 3007, 3008, 3009
Vietnam Marine Police vessel type 2.jpg
TT-200

200 tấn


Vietnam
Tuần tra
14
2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014
Vietnam Marine Police vessel type 1.jpg
TT-400

400 tấn


Vietnam
Tuần tra
9
4031, 4032, 4033, 4034, 4035, 4036, 4037, 4038, 4039

Teshio class (Natsui class)720 tấn
Japan
Tuần tra
5
6001, 6002, 6003, 6004, 6005
Vietnam Marine Police vessel type 5.jpg
Offshore patrol vessel

1200 tấn


Vietnam
Tuần tra và Cứu hộ
2
6006, 6007
Vietnam Coast Guard CSB-8002.jpg
DN-2000

2500 tấn


Vietnam
Tuần tra
4
8001, 8002, 8004, 8005
Vietnam Coast Guard CSB-8020.jpg
Hamilton-class cutter

3250 tấn


Hoa Kỳ
Tuần tra
1
8020[17]

Patrol boat

280 tấn


South Korea
Tuần tra
2
2015, 2016
Vietnam Coast Guard CSB-8003.jpg
Tàu tuần tra lớp sông Hàn

1500 tấn


South Korea
Tuần tra
1
8003
Vietnam Marine Police vessel type 6.jpg
Damen Salvage tug

1400 tấn



Damen Group


Song Thu company


Cứu hộ Cứu nạn
4
9001, 9002, 9003, 9004, 9005
Vietnam Coast Guard CSB-7001.jpg
H-222

4.300 tấn


Vietnam
vận chuyển dầu và cung cấp nhiên liệu, nước ngọt, lương thực - thực phẩm
1
7011

Xuồng tuần tra cao tốc
Vietnam
Tuần tra
14
426, 426S, 603, 604, 606, 607, 608, 609, 610, 611, 612, 613, 614, 615

Tàu tuần tra kết hợp tìm kiếm cứu nạn xa bờ
Vietnam
Tuần tra và cứu nạn xa bờ
1
Sar 924
EC-025.jpg
CASA C-212 Aviocar series 400
Spain
Tuần tra
2
8981, 8982



No comments:

Post a Comment